Những sự thật không mấy vui lòng lại một lần nữa đập vào tai các cử tọa tại cuộc hội thảo Tăng năng suất lao động để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam tổ chức vào 21/3 vừa qua. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VERP cho biết, trong 25 năm qua, năng suất lao động (NSLĐ) của nền kinh tế chỉ tăng chưa tới 3 lần, thấp hơn rất nhiều so với tốc độ của các nước khác.

Đáng lưu ý, theo tính toán của VERP, năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước cao hơn hẳn NSLĐ của khu vực doanh nghiệp tư nhân, điều mà chúng ta không biết nên đón nhận bằng nụ cười hay nước mắt.

Có thể sẽ không cần bàn nhiều nữa viễn cảnh tụt hậu, nhưng cũng không thể giương mắt chờ đợi nền kinh tế đi vào ngõ hẻm. Vì vậy những phân tích nói trên cần được minh định rõ ràng hơn, nếu không phải là ném đá dò đường thì coi như để bớt đi tối đa những bước chân hẫng hụt.

Theo cách tiếp cận này, việc đầu tiên cần làm là nhìn kỹ vào mức tăng chưa tới 3 lần trong suốt 25 năm qua của NSLĐ Việt Nam. Thoạt nhìn, có vẻ như đây là một nghịch lý khi các báo cáo trước đó đều ghi nhận NSLĐ có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm.

Tính chung giai đoạn 1994-2013, NSLĐ tính theo sức mua tương đương năm 2005 (PPP 2005) của Việt Nam tăng trung bình 4,87%/năm. Bình quân NSLĐ giai đoạn 2011-2017 tính theo giá so sánh năm 2010 tăng 4,7%/năm. Mức tăng NSLĐ của Việt Nam được đánh giá là cao hơn so với mức tăng bình quân của các nước trong khu vực.

Ngành điện là một trong số ít các ngành có năng suất lao động cao nhất Việt Nam

Tuy nhiên, theo giá trị tuyệt đối, con số này lại vô cùng khiêm tốn so với bè bạn. Theo thông tin từ VCCI, hiện tại, NSLĐ Việt Nam bằng 7,2% Singapore, tương đương một người dân Việt làm 100 giờ chỉ bằng một lao động quốc đảo sư tử làm 7,2 giờ.

Không quá khó để lý giải thực trạng này. Mức tăng tương đối của NSLĐ Việt Nam bắt nguồn từ một thực tế rất giản dị, chúng ta mới hội nhập với nền kinh tế toàn cầu được hơn 30 năm.

Khi là người xuất phát muộn hơn, đương nhiên tốc độ tăng trưởng của chúng ta sẽ nhanh hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để đuổi kịp về giá trị thực, Việt Nam cần phải có một sức tăng trưởng NSLĐ thần kỳ hơn các con số trên rất nhiều lần.

Đặt trong các so sánh, phải nhìn sự ì ạch nói trên bằng một con mắt cảnh giác gấp nhiều lần. Về quy mô nền kinh tế, GDP Việt Nam năm 2010 là xấp xỉ 105 tỉ USD, tăng gấp đôi lên mức hơn 220 tỉ USD năm 2017. Đã có một sự lệch pha khá lớn giữa tốc độ tăng quy mô nền kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động xã hội. Điều này cho thấy, tốc độ tăng trưởng quy mô kinh tế dựa vào các yếu tố ngoài lao động nhiều hơn.

Về mức độ sử dụng tài nguyên, trong hơn hai chục năm qua, ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam tăng trưởng rất nhanh. Năm 2012, Việt Nam đứng thứ 7 về khai thác dầu thô ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đóng góp 2,3% tổng sản lượng thiếc và 1,8% tổng sản lượng xi măng thế giới.

Số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, năm 2013, Việt Nam đã khai thác 42,6 triệu tấn than, 3 triệu tấn quặng sắt, 3 triệu tấn Appatite, 193 ngàn tấn Mangan và nhiều loại khoáng sản khác với sản lượng lớn. Nguy cơ cạn kiệt nhiều tài nguyên như dầu mỏ, than đá, thiếc, chì, kẽm, vàng… nằm trong kịch bản của một, hai chục năm sắp tới.

Về chênh lệch NSLĐ giữa các ngành, theo TS Bùi Trinh, ngành bất động sản, khai khoáng có mức NLSĐ gấp hơn 20 lần so với NSLĐ chung của nền kinh tế. Ở chiều ngược lại, mức tăng NSLĐ của khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng không khả quan. Đáng buồn hơn là sự hòa đồng của các nhóm ngành này ở khả năng tăng thêm mức NSLĐ.

Trong khi bất động sản và khai khoáng hoặc là tạo nên các giá trị ảo, theo những cơn nóng lạnh bất thường của thị trường, hoặc là ‘đào, xúc, hút’ thứ của cải phải mất mấy chục triệu năm để xuất hiện lại, thì khó có thể kỳ vọng sự tiến lên vượt bậc của NSLĐ nhóm ngành sản xuất công nghiệp khi chúng ta vẫn chủ yếu gia công trên nền tảng máy móc thiết bị lạc hậu cả chục năm so với thế giới.

Cuối cùng là so sánh trong tương quan với lực lượng lao động. Không nên quên, Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, đồng nghĩa tỷ lệ lao động tham gia vào nền kinh tế đang ở mức tối đa.

Nếu không có biến chuyển, chỉ khoảng 10 năm nữa khi dân số già, người lao động sẽ phải gánh thêm nhiều hơn số người phụ thuộc. Đây sẽ là rào cản không thể bỏ qua trong các tính toán về việc tăng NSLĐ toàn xã hôi.

Trong bối cảnh này, bẫy thu nhập trung bình trở thành một bức tranh càng ngày càng rõ hình rõ nét. Khi mức thu nhập bình quân đầu người hiện tại của Việt Nam mới chỉ xấp xỉ 3000 USD/năm, đó sẽ là bẫy thu nhập thấp mà nếu vướng vào, sẽ càng khó để thoát ra.

Rõ ràng, cần có một lời giải chung cho bài toán NSLĐ và thoát bẫy thu nhập trung bình. Vậy chúng ta cần hành động như thế nào?

Trả lại nền kinh tế về cho thị trường để từng bộ phận cấu thành đều hoạt động theo mục tiêu có lợi nhuận và lợi nhuận tối đa sẽ là giải pháp thiết thực nhất để tăng NSLĐ. Đồng thời với đó, nguồn lực phải được phân bổ vào khu vực sinh lời và có đóng góp xã hội lớn, tiếp sức cho những người xứng đáng.